bangron xuquang

Đôi nét về Xứ Lạng quê hương tôi

Đôi nét về Xứ Lạng quê hương tôi

LẠNG SƠN - là một tỉnh miền núi, địa đầu phía đông bắc của tổ quốc, cũng là nơi các dân tộc đồng bào thiểu số sinh sống.
I. ĐẶC ĐIỂM CHUNG

 1. Về vị tri địa lý, địa hình, đất đai
Lạng Sơn là một tỉnh miền núi, biên giới, thuộc vùng Đông Bắc với diện tích tự nhiên 8.310,09 km2, hẹp nhất là thành phố Lạng Sơn 77,94 km2, rộng nhất là huyện Đình Lập 1.189,56 km2. Lạng Sơn nằm ở vị trí đường quốc lộ 1A, 1B, 4A, 4B, 279 đi qua, là điểm nút giao lưu kinh tế với các tỉnh phía Tây là Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Kạn, phía Đông là tỉnh Quảng Ninh, phía Nam là Bắc Giang và phía Bắc tiếp giáp với Khu tự trị dân tộc Choang, Quảng Tây, Trung Quốc, với 2 cửa khẩu quốc tế (cửa khẩu đường bộ Hữu Nghị và cửa khẩu đường sắt Đồng Đăng), 1 cửa khẩu chính Chi Ma và 9 cửa khẩu phụ.
Lạng Sơn là điểm đầu tiên của Việt Nam trên 2 tuyến hành lang kinh tế Nam Ninh (Trung Quốc) - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng và Lạng Sơn - Hà Nội - Thành phố Hồ Chí Minh - Mộc Bài (tham gia hành lang xuyên Á: Nam Ninh - Singapore)là cửa ngõ quan trọng nối Trung Quốc và các nước ASEAN. Lạng Sơn có đường biên giới với Quảng Tây - Trung Quốc dài trên 231 km. Lạng Sơn cách Nam Ninh là thủ phủ của Quang Tây, Trung Quốc khoảng 230 km, cách thủ đô Hà Nội khoảng 150 km. Đang xây dựng tuyến đường cao tốc nối với các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh và thành phố Hà Nội, có đường sắt liên vận quốc tế nối với Quảng Tây, Trung Quốc rất thuận lợi cho giao lưu kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ với các tỉnh trong cả nước với Trung Quốc.
Địa hình phức tạp, chủ yếu là núi thấp và đồi chiếm hơn 80%, độ cao trung bình 252 m so với mặt nước biển, nơi thấp nhất là 20 m ở phía nam huyện Hữu Lũng và nơi cao nhất là núi Mẫu Sơn 1.541 m. Khu du lịch Mẫu Sơn được quy hoạch là khu du lịch Quốc gia, cách thành phố Lạng Sơn 31 km về phía Đông.
Khí hậu tỉnh Lạng Sơn tuy nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa nhưng có nét đặc thù của khí hậu á nhiệt đới, nền nhiệt không quá cao, có mùa đông tương đối dài và khá lạnh. Nhiệt độ trung bình từ 21 - 220C, lượng mưa từ 90 - 132 mm, độ ẩm từ 83 - 85%. Trong tổng số 8.310,09 km2 đất có 13,40% là đất sản xuất nông nghiệp, 69,13% là đất lâm nghiệp, 3,46% đất chuyên dụng, 0,98% đất ở. Hiện còn 94.513 ha đất chưa sử dụng, chủ yếu là núi đá chưa có rừng.
 2. Tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên rừng: Có diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 512.559 ha, chiếm 61,6% diện tích đất tự nhiên. Tài nguyên khoáng sản không nhiều, trữ lượng các mỏ nhỏ, chủ yếu là mỏ đá vôi với khoảng 40 mỏ đang khai thác có tổng trữ lượng 405 triệu m3­­ để làm vật liệu xây dựng.
 3. Dân số, đơn vị hành chính
Dân số đến hết năm 2017 là 778,4 nghìn người, chủ yếu sinh sống ở khu vực nông thôn (chiếm 80,24%); mật độ dân số bình quân 92,5 người/km2, cao nhất là thành phố Lạng Sơn 1.217,1 người/km2, thấp nhất là huyện Đình Lập 23,04 người/km2. Người trong độ tuổi lao động là 514,3 nghìn người, chiếm 66,1% dân số.
Tỉnh Lạng Sơn có 7 dân tộc chủ yếu là: Nùng chiếm 42,8%, Tày 35,4%, Kinh 17,11%, Dao 3,5%, Sán chay 0,6%, Hoa 0,3%, Mông 0,17%, các dân tộc khác chiếm 0,12%.
Toàn tỉnh có 10 huyện và 1 thành phố loại III, với 226 đơn vị hành chính cấp xã (207 xã, 5 phường, 14 thị trấn), có 2.314 thôn, khối phố (2.152 thôn, 162 khối phố); có 5 huyện, 20 xã và 1 thị trấn biên giới. Trong đó có 38 xã khu vực I, 63 xã khu vực II, 125 xã khu vực III; có 133 xã đặc biệt khó khăn, an toàn khu, biên giới và 121 thôn đặc biệt khó khăn thuộc xã khu vực II trong diện đầu tư Chương trình 135 giai đoạn 2017 - 2020.
II. VỀ KINH TẾ
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hằng năm giai đoạn 2011 - 2017 đạt 8 - 9%, trong đó ngành nông, lâm nghiệp tăng 3 - 4%; công nghiệp - xây dựng tăng 9 - 11%; dịch vụ tăng 10 - 12%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông lâm nghiệp, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ. Nông lâm nghiệp chiếm 20,30%, công nghiệp - xây dựng 19,68%, dịch vụ 49,78%, thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm 10,24%. Thu nhập bình quân đầu người năm 2018 đạt 38,4 triệu đồng.
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh xác định 5 chương trình trọng tâm trong nhiệm kỳ 2015 - 2020, trong đó có 3 chương trình kinh tế trọng tâm là: Phát triển Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn; tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới; phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, trọng tâm là kết cấu hạ tầng giao thông.
Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn được Thủ tướng Chính phủ thành lập từ tháng 10/2008 với diện tích 394 km2. Trong những năm qua, tỉnh Lạng Sơn đã tập trung xây dựng Khu kinh tế cửa khẩu trở thành vùng kinh tế động lực của tỉnh. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2017 đạt 5,25 tỷ USD. Hiện đang đầu tư hoàn thiện các khu chức năng, đã phê duyệt chủ trương và triển khai thực hiệndự án đầu tư Khu trung chuyển hàng hóa, dự án đầu tư Hạ tầng Khu chế xuất 1. Đang rà soát để trình Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh phạm vi, ranh giới Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn để nâng cao hiệu quả hoạt động, phát huy vai trò động lực trong phát triển kinh tế của Khu kinh tế cửa khẩu.
Thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới theo hướng phát triển các vùng sản xuất hàng hóa tập trung đối với các sản phẩm chủ lực của tỉnh đã được quy hoạch, gắn vớiđổi mới hình thức tổ chức sản xuất theo hướng liên kết theo chuỗi giá trị. Tổng sản lượng lương thực bình quân đạt trên 300 nghìn tấn/năm, bình quân lương thực đầu người 385 kg, đảm bảo an ninh lương thực.
Đã quy hoạch phát triển chuỗi giá trị các ngành hàng sản phẩm nông lâm sản chủ lực sauLâm nghiệp có cây Hồi 34.000 hacây Thông 126.200 ha, keo và bạch đàn 25.000 - 30.000 ha; chăn nuôi có đàntrâu 124,3 nghìn con, đàn bò 37,9 nghìn con, đàn lợn 305,7 nghìn con; nông sản có cây Na khoảng 2.500 ha, Rau gần 3.000 ha, Thuốc lá khoảng 6.500 ha. Ngoài ra, còn quy hoạch phát triển các sản phẩm chủ lực cấp huyện sau: Lúa chất lượng cao, Thạch đenNgôLạcQuýtHồngChètre, mai, vầu, nứacây dược liệu, phát triển đàn gia cầm, dê.
Về xây dựng nông thôn mới, hết năm 2018 bình quân toàn tỉnh đạt 9,7 tiêu chí/xã, có 48 xã đạt chuẩn, không còn xã dưới 5 tiêu chí, thành phố Lạng Sơn được công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới.
Hết năm 2018 tỷ lệ cứng hóa đường ô tô đến trung tâm xã đạt 76,2%, tỷ lệ diện tích bảo đảm tưới tiêu 73,6%, tỷ lệ dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh 91%; tỷ lệ dân cư thành thị sử dụng nước sạch 99%; tỷ lệ thôn có điện đạt 98,3% (còn 36 thôn chưa có điện).
Sản xuất công nghiệp chủ yếu là các cơ sở quy mô nhỏ, giá trị sản xuất công nghiệp đạt khoảng 5.750 tỷ đồng. Một số lĩnh vực lợi thế của tỉnh là: Sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng, khoáng sản, nhiệt điện, chế biến gỗ... Hiện đang tập trung xây dưng một số cụm công nghiệp: Hợp Thành 1, Hợp Thành 2, Quảng Lạc. Hoạt động du lịch phát triển cả về lượng khách, loại hình dịch vụ, doanh thu và chất lượng phục vụ; lượng khách tăng bình quân 5%/năm, năm 2018 đã thu hút được 2,8 triệu lượt khách du lịch.
Toàn tỉnh có 2.760 doanh nghiệp đăng ký hoạt động, với tổng số vốn 22,1 nghìn tỷ đồng, có 640 chi nhánh, văn phòng đại diện của các doanh nghiệp đăng ký hoạt động. Có 223 hợp tác xã, nhiều mô hình hợp tác xã kiểu mới gắn với chuỗi liên kết phát huy hiệu quả. Số doanh nghiệp trong lĩnh vực thương mại - dịch vụ chiếm 68%, công nghiệp - xây dựng 29%, nông lâm nghiệp 13%; nhóm doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại - dịch vụ và công nghiệp - xây dựng phát triển khá.
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng bình quân 13 - 15%/năm, năm 2018 đạt 16.250 tỷ đồng. Tổng thu ngân sách trên địa bàn giai đoạn 2011 - 2015 tăng bình quân hằng năm 17,53%. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn năm 2018 là 5.488,7 tỷ đồng. Các năm 2016, 2017, 2018 giảm so với năm 2015 do giảm thu từ hoạt động xuất nhập khẩu (nguyên nhân là do nhiều mặt hàng tiêu dùng giảm thuế xuất nhập khẩu về mức 0% theo lộ trình thực hiện các hiệp định thương mại; các mặt hàng nhập khẩu có tỷ trọng thuế suất cao giảm mạnh, nhất là ô tô, linh kiện ô tô). Thu nội địa vẫn tăng qua các năm, tăng bình quân từ 16 - 18%/năm, năm 2017 lần đầu tiên đạt trên 2.000 tỷ đồng (2.380 tỷ đồng), năm 2018 thu 2.680,8 tỷ đồng.
III. VỀ VĂN HÓA - XÃ HỘI
Tỷ lệ thôn, khối phố có nhà văn hóa đến năm 2018 đạt 96%.
Số trường đạt chuẩn quốc gia đến năm 2018 là 192 trường trên tổng số 694 trường.
Đến hết năm 2018, tổng số xã đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế là 114 xã, chiếm 50,4% số xã. Có 10,5 bác sỹ/vạn dân, 28,3 giường bệnh/vạn dân, Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt 95,5%.
Tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2018 đạt 50%, lao động được giải quyết việc làm hàng năm trên 14.600 người.
Giảm tỷ lệ hộ nghèo hàng năm đều giảm trên 3%, năm 2017 giảm 3,3%, năm 2018 giảm 3,24%. Hiện còn 30.583 hộ nghèo, chiếm 15,83%; 21.267 hộ cận nghèo, chiếm 11,01%.
IV. MỘT SỐ MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU CHỦ YẾU ĐẾN 2020
Các mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI nhiệm kỳ 2015 - 2020 đã đề ra như sau:
(1) Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) bình quân từ 8 - 9%.
(2) Đến năm 2020 tỷ trọng các ngành trong cơ cấu GRDP là: Nông lâm nghiệp 19 - 20%, công nghiệp - xây dựng 20 - 21%, dịch vụ 60 - 61%.
(3) Đến năm 2020 GRDP bình quân đầu người đạt khoảng 2.600 - 2.700 USD.
(4) Tổng sản lượng lương thực hằng năm duy trì khoảng 300 nghìn tấn.
(5) Kim ngạch xuất khẩu hàng địa phương tăng bình quân từ 9 - 10%.
(6) Thu nội địa tăng bình quân từ 8 - 9%.
(7) Tổng vốn đầu tư toàn xã hội cả giai đoạn khoảng 76 - 78 nghìn tỷ đồng.
(8) Đến năm 2020 có 72 xã đạt chuẩn nông thôn mới.
(9) Đến năm 2020 tỷ lệ cứng hóa đường ô tô đến trung tâm xã đạt 82%.
(10) Đến năm 2020 tỷ lệ dân cư nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 95% và tỷ lệ dân cư thành thị được sử dụng nước sạch đạt 99,9%.
(11) Số trường học đạt chuẩn quốc gia phát triển thêm từ 70 - 75 trường, đến 2020 nâng số trường đạt chuẩn lên 200 - 205 trường.
(12) Đến năm 2020 tỷ lệ thôn, khối phố có nhà văn hoá đạt 99%.
(13) Đến năm 2020 tỷ lệ xã đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã đạt 50%; có 10 bác sỹ và 29,4 giường bệnh trên 1 vạn dân; tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt 90%.
(14) Đến năm 2020 tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 55%.
(15) Giảm tỷ lệ hộ nghèo hằng năm khoảng 2%.
(16) Giảm tai nạn giao thông hằng năm cả 3 tiêu chí từ 5% trở lên.
(17) Trồng rừng mới hằng năm 9.000 ha; đến năm 2020 tỷ lệ che phủ của rừng đạt khoảng 60%.   
(18) Đến năm 2020 tỷ lệ chất thải rắn ở đô thị được thu gom và xử lý đạt khoảng 95%; tỷ lệ chất thải y tế được xử lý đạt 98%.
 
Quang cao giua trang
thiet ke banner 1
TRANG THÔNG TIN TRUYỀN THÔNG LẠNG SƠN
Người đại diện: Trần Chí Công - Trung tâm thông tin truyền thông Lạng Sơn.
Trụ sở VP: đường Trần Phú, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn.
Điện thoại: 0915.188.622; 0986.188.622
Website: www.langson.org
Email: Thongtinlangson@gmail.com
 
 
Right
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây